Cô còn nhớ em không?

Nguyên Hạnh – HTD

5 tháng 5, 2022

Inline image

Ảnh: dan-dimmock-unsplash

Học sinh thường nghĩ, thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn… Cho nên mỗi lần tôi gặp lại một em học sinh không có gì nổi bật ngày xưa mà tôi còn nhớ tên thì em học sinh rất vui…

Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương chấm dứt, thầy trò phân tán, tôi đi cùng Nam cực Bắc. Nhưng tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi tên sau câu mở đầu công thức: “Cô còn nhớ em không?”. Những người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương – xa trường, xa thầy…, bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao!

Kẻ gieo niềm vui tất nhiên cũng được hưởng những niềm vui. Có lần, giữa khu phố Tàu Toronto (Canada), tôi gọi đúng tên một em học sinh cũ. Em mừng rỡ ôm tôi tha thiết, rồi níu tay nói “Cô chờ em một tí”. Em vụt chạy vào một tiệm gần đó, mua một bông hồng đỏ, cài lên ngực áo tôi. Những cái hôn cảm động và đóa hồng như thế, tôi mang về trong giấc ngủ, tôi mang theo suốt cuộc đời. Nó là hương sắc đậm đà trong cuộc sống đơn giản của một nhà giáo.

Tôi luôn cố học tên, nhớ mặt học sinh. Mỗi đầu năm học, tôi học kỹ bản đồ lớp, sáu bảy lớp với hơn 300 học sinh, tôi phải học thật sự. May mà tên con gái Huế đa số bốn chữ, âm thanh hài hòa, lắm lúc một dãy tên trở thành một đoạn nghe êm tai mà cũng dễ thuộc. Mặt đẹp tên hay thường đi đôi với nhau, mặt mày chất phác thường mang tên giản dị, còn những em mang tên ngồ ngộ không theo quy luật nào cả lại càng dễ nhớ. Một năm 300 tên, 300 mặt, nhớ cho hết cũng đủ xây xẩm rồi. Đò đi mà bến cũ còn ở lại, năm sau lại 300 tên khác và 300 tên khác nữa…

Inline image

Ảnh: trung-pham-quoc-unsplash

Sau năm 1975, trên các nẻo đường bôn ba ở miền Nam, tôi vẫn gặp lại các học sinh thân yêu với lời chào quen thuộc “Cô còn nhớ em không?”, trong những cảnh ngộ khác nhau. Tôi không bao giờ quên được lần tôi gặp Hạnh Mai trên một chuyến xe lửa Sài Gòn-Huế. Thầy trò tất tả ngược xuôi vì miếng cơm manh áo, nước mắt nhiều hơn nụ cười với những tủi nhục của cảnh lầm than! Hôm đó, con tàu nhung nhúc, hôi hám kinh khủng. Tôi ngồi chỉ được nửa bàn mông, đôi chân phải chuồi ra kê trên bao nhiêu đồ đạc bừa bãi. Thỉnh thoảng lại thấy có người khom khom lách tới, lẹ làng nhét dưới ghế những gói, bao hàng. Lúc sau lại thấy họ tới lôi ra đem nhét vào khoang khác.

Đó là mấy bà đi buôn. Họ đi tàu “cọp”. Gọi là cọp nhưng họ phải chi tiền cho ban kiểm tra, cho thuế vụ, cho thanh tra. Giá tiền nhiều gấp bao nhiêu lần giá vé! Đến ga nào có đoàn kiểm tra đột xuất, họ nhảy tạm xuống chạy bộ ra khỏi ga. Khi tàu chuyển bánh, tốc độ còn chậm, họ lại bám vào thành tàu. Người trên đưa tay kéo kẻ dưới, toàn là phụ nữ. Lòng tôi se thắt khi nhìn những con người như thế đeo lên rớt xuống, lăn trên đường đá lởm chởm; lại ngoi lên, lại níu, lại nhảy…

Hôm đó, như mọi lần, tôi lại thẫn thờ nghĩ đến giá trị sinh mạng con người trong “xã hội mới”, thì bỗng một người ngồi thụp bên chân tôi, tìm chỗ rúc đầu dưới ghế hầu tránh công an nhưng nghẹt cứng không còn chỗ, và cô ấy đành úp mặt lên đầu gối tôi, mặc cho những lằn roi quất tới tấp trên chiếc nón lá xơ vành. Để cho nhẹ bớt đòn roi, chị đi buôn ghì mặt xuống thấp hơn, thấp hơn nữa. Quá bất mãn trước hành động dã man của tên công an, tôi phản ứng:

– Anh làm gì lạ vậy? Và đưa tay gạt ngọn roi.

Anh ta nhìn tôi:

– Thím lạ lắm hả? Bọn gian thương này phải đánh cho chúng nó chừa, chúng nó chuyên bóp nghẹt quốc doanh, phá hoại chính sách ưu việt của đảng và nhà nước…

Con vẹt áo vàng tuôn đủ một tràng kinh nhật tụng rồi đổi giọng:

– Xin lỗi, thím công tác ở cơ quan nào?

Tôi đáp liều:

– Tôi đi dạy học (thật tình tôi đã bỏ dạy từ năm 1979 dù Ban giám hiệu yêu cầu tôi ở lại nhiều lần).

Nghe vậy, tên công an nói tiếp:

– Thím về nên giảng giải thêm cho học sinh rõ, báo cáo sâu sát tình hình để nhà nước ta có biện pháp hữu hiệu tiêu diệt bọn chúng.

Hắn bỏ đi sau khi hừ một tiếng. Lúc đó chị đi buôn mới nhìn tôi qua nửa vành nón rách:

– Cám ơn bác. Cô nói giọng Huế. Kệ, rứa đó chớ không răng mô bác. Hắn giả đò quất trót trót cho to rứa chứ không can chi mô. Cái nón của tụi tui được dùng cho mục đích nớ đó. Làm bộ qua mặt người khác rứa chớ “đấm mõm” thì yên hết.

Khi chị đi buôn ngớt lời, hất chiếc nón ra sau, tôi nhìn kỹ. Tôi như bị điện chạm bởi ánh mắt quen thuộc của một ngày xa xưa. Gương mặt tuy chai cằn sạm nắng che lấp bởi tóc tai lòa xòa nhưng cái lúm đồng tiền vẫn nhắc cho tôi một thoáng vẻ rất quen thuộc. Phần chị đi buôn, chị lập tức vụt tắt nụ cười. Chị luống cuống quơ đôi dép nhựa rách mép, hối hả chạy với lời “Cám ơn bác” vọng lại.

Tôi vội chụp tay cô ấy. “Hạnh Mai”! Hạnh Mai quay lại, đổ ào xuống chân tôi, úp mặt vào đầu gối tôi và bùng khóc nức nở. Tôi im lặng đặt tay lên vai em để cho em khóc. Hồi thật lâu, Hạnh Mai mới ngước nhìn tôi đầy mặc cảm:

– Em không ngờ cô còn nhớ ra em! Lâu quá rồi! Em già và tàn tạ quá! Cô thì không đổi mấy nhưng vì lúc đầu ngồi thấp và đội nón nên em chưa thấy. Sau biết là cô, em định chạy trốn luôn.

– Sao lại trốn?

– Em tủi thân, không dám chào! Vả lại không nghĩ là cô còn nhận ra em nữa! Em đưa hai bàn tay đen đủi gân guốc bụm lên hai má rồi thở dài…

Thầy trò thủ thỉ hỏi thăm nhau. Mai tâm sự, em có bốn con, chồng đi tù cải tạo. Em đi hàng chuyến, vào ra hết 4, 5 ngày, về tạt qua nhà để lại ít bobo, mì sợi cho con, rồi lại tất tả đi tiếp cho chuyến khác. Hàng em buôn là đậu phụng, đậu xanh, bột mì…, có khi buôn cả than củi. Để quên bớt nỗi ê chề đắng cay của thực tại, tôi đưa Hạnh Mai trở về quá khứ. Vài kỷ niệm dễ thương dưới mái trường Đồng Khánh được thầy trò nhắc đến…

Tàu đến ga Lăng Cô. Đoàn đi buôn quăng bao hàng rồi nhảy ào xuống trước khi vào khu vực kiểm soát của nhà ga. Hạnh Mai cũng thế. Tôi xót xa nhìn theo cô học trò nhỏ bé nhảy tàu, lăn mấy vòng rồi đứng dậy chụp theo mấy bao hàng; xốc nách một bao và xách hai tay hai bao, ngã lên ngã xuống qua hàng kẽm gai để vòng thoát ra phía sau dãy nhà dân… Năm sau, báo chí loan tin xe lửa Huế-Sài Gòn bị lật ở Trảng Bom, chết sáu bảy trăm người, đa số là con buôn. Tôi kinh hoàng đau xót. Hạnh Mai có trong đó không em? Mà nếu không có em thì cũng trăm ngàn Hạnh Mai khác.

*****

Tôi may mắn rời quê hương để bao nỗi u hoài ở lại. Tưởng rằng nơi đất khách khó gặp được người thân, ai ngờ tôi vẫn còn nghe những câu chào “Cô còn nhớ em không?”. Cô nhớ chứ. Các em không thể ngờ rằng, trong ký ức cô, các em vẫn hằng có mặt. Những món quà nho nhỏ, những nụ hôn, những đóa hồng… Cô nhớ mãi. Đó là những gì tôi mãi trân quý trong suốt cuộc đời nhà giáo của mình…

Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/tan-man/co-con-nho-em-khong/

https://khoahocnet.com/2016/06/30/nguyen-hanh-htd-co-con-nho-em-khong/amp/

Phan Nữ Lan chuyển từ bạn

***

Đôi nét về tác giả và mời đọc thêm tuỳ bút của tác giả:



Hoàng Thị Doãn

pháp danh Nguyên Hạnh

Tên thật: Hoàng Thị Doãn

Pháp danh: Nguyên Hạnh

Sinh ngày: 1.1.1936  tại Huế

Tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm – Sài Gòn

Giáo sư Toán trường nữ Trung học Trưng Vương, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh.

Định cư tại München, Đức quốc từ năm 1989

Làm việc tại Ludwig-Maximilians-Universitat

Cộng tác thường xuyên báo Viên Giác Đức quốc và trang nhà Quảng Đức tại Úc.

*Tác phẩm đã xuất bản

-2008: Những Cây Bút Nữ Báo Viên Giác (tập 1) 

Tập truyện viết chung với những cây bút nữ báo Viên Giác.

-2014: Những Cây Bút Nữ Báo Viên Giác (tập 2)

Tập truyện viết chung với những cây bút nữ báo Viên Giác.

***

Huế và Nỗi Nhớ

22/10/2019

      Quê quán tôi ở tận làng Nguyệt Biều, ngoại ô thành phố Huế, nơi nổi tiếng có những vườn thanh trà xanh um, trái ngọt.

      Hơn 50 năm trên đất Việt, tôi đã sống hơn 30 năm trên đất Huế, uống nước sông Hương hai mùa mưa nắng, ăn cơm gạo de An Cựu. Mùa hè tắm biển Thuận An, mùa xuân ngắm hoa đào trên chùa Từ Hiếu, mùa đông vẫn dầm mưa qua đò Thừa Phủ; chưa kể tiếng thông reo trên đồi Thiên An, tiếng ve sầu rả rích trên các tàng cây dọc con đường vào Thành Nội. Còn nữa, màu hồng, màu trắng của hoa sen hồ Tịnh Tâm, màu đỏ rực của phượng vĩ mùa hè. Tôi là dân Huế chính cống, Huế chay, “mô – tê – răng – rứa “ tôi nói không sai một chữ. Cũng có thể máu huyết tôi thấm đậm hương vị quýt Hương Cần, thanh trà, nhãn lồng Nguyệt Biều, mít Kim Long, dâu Truồi ngọt lịm…

      Ai đã trải qua tuổi thanh xuân ở Huế, không thể nào quên được các đoạn đường, khúc quanh ngã rẽ: bún bò mụ Rớt, bánh bèo Tây Thượng, bánh khoái cầu Đông Ba, chè bắp Cồn Hến, bánh ướt thịt nướng Kim Long, cơm Âm Phủ. Còn rất nhiều thứ để nhớ; những đêm trăng với mùa hoa lài, hoa dạ lý hương, hoa hoàng lan, nguyệt quế. Những hương vị đó luôn luôn phảng phất, lẩn quất trong tôi làm nên nỗi nhớ trong những giấc ngủ mộng mị, mơ hồ…

      Ký ức tôi thường đọng lại ở đó, nơi ngôi trường cũ, nơi có những tường hồng nép mình bên những hàng phượng già gần trốc gốc.

      Trường tôi cách trường Quốc Học bởi con đường Nguyễn Trường Tộ nhưng nổi tiếng nhờ con đường trước mặt mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gọi là đường Phượng. Con đường đó mỗi khi đỏ rực hoa Phượng, báo hiệu hè về là lúc phải chia tay, bởi thế “em đi về cầu mưa ướt áo“ vì “đường phượng bay mù không lối vào“ và “ hàng cây lá đan gần lấy nhau“ (Mưa hồng).

       Người con gái mong mưa trở lại để được tựu trường dù mưa lạnh buốt giá, dân Huế vẫn sống đẹp, sống mộng mơ, sống còn để lớn lên, sống vượt cái nghèo, cái đói, cái ẩm thấp thiếu thốn, vượt thời gian, không gian. Thành phố Huế nghèo nàn nhưng vẫn hùng tráng như mẹ Âu Cơ dắt 50 con về biển, bằng cơm mem, tần tảo đưa con đến bến bờ.

      Tôi đã đi qua cầu Tràng Tiền mỗi ngày:

       “Cầu Tràng Tiền 6 vài 12 nhịp

        Anh qua không kịp tội lắm em ơi

        Chẳng thà chẳng biết nhau thôi

        Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi thêm buồn“.

      Nhưng ấn tượng về Huế vẫn là những ngôi chùa. Huế có rất nhiều chùa nhưng tôi thường thích đi chùa Báo Quốc, chùa Từ Đàm, chùa Thiên Mụ. Huế có niềm vinh dự là chính trên mảnh đất nhỏ hẹp này có một số lượng chùa nhiều nhất so với bất cứ một địa phương lớn nhỏ nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

      Những người mệt mỏi vì cuộc đời, đến chùa để tìm một chút tĩnh tâm, thư giãn đầu óc, những Phật tử Huế đi xa, giờ đây có dịp về thăm quê, tìm về chùa để nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời xa vắng.

Chùa Thiên Mụ

      Được tạo dựng trên đồi Hà Khê trên một khoảnh đất bằng phẳng hình chữ nhật diện tích khoảng 6 mẫu, cách trung tâm thành phố Huế 5 km về phía tây thuộc địa phận xã Hương Long. Chùa được bao quanh bằng khuôn tường xây đá hai vòng trong và ngoài.


   

   Thiên Mụ là ngôi chùa lịch sử với kiến trúc đồ sộ và cũng là ngôi chùa đẹp nhất Huế. Theo truyền thuyết khi xưa nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên đồi, phán rằng “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch cho nước Nam hùng mạnh“. Quả nhiên sau này chúa Nguyễn Hoàng – vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong trên đường vào Nam trấn thủ xứ Thuận Hóa và Quảng Nam; trên đường rong ruổi Ngài bắt gặp một ngọn đồi nhô lên bên dòng sông Hương uốn khúc, thế tựa như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Đồi có tên là Hà Khê và chùa được chúa Nguyễn Hoàng cho khởi lập chính thức vào năm 1601, đặt tên là Thiên Mụ.

       Ngày nay chùa vẫn còn huy hoàng tráng lệ, chính nhờ công lao trùng tu và xây dựng của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu. Hòa Thượng đã hứng chịu bao  gian nguy trước sức phá hoại của bạo lực qua bao cuộc chiến tranh ác liệt và nhờ đó mà Thiên Mụ đã trở lại tốt đẹp như xưa. Bây giờ đương kim Trụ trì chùa là Hòa Thượng Thích Trí Tựu.

       Đến với Thiên Mụ, du khách không khỏi cảm kích trước vẻ đẹp thiên nhiên, trước công trình đời xưa để lại với ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòng Hương Giang duyên dáng. Nơi đây qua bao thế kỷ, sớm chiều tiếng chuông chùa ngân nga vang vọng cùng với khói hương ngào ngạt tỏa ra giữa thinh không vắng lặng đã hấp dẫn và làm say đắm biết bao lòng người xứ Huế. Khó ai có thể quên được chùa Thiên Mụ cùng với tiếng chuông từ bao đời đã đi vào ca dao, để lại trong lòng người xứ Huế và bạn bè gần xa thiết tha với Huế:

      “Gió đưa cành trúc la đà

      Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương“


Chùa Báo Quốc

       Tọa lạc trên đồi Hàm Long thuộc địa phận phường Phường Đúc, phía đông giáp đường Phan Thanh Giản, phía tây giáp thôn Lịch Đợi, phía nam giáp thôn Trường Giang, phía bắc là nhà ga Huế.


       Chùa xây theo kiểu chữ khẩu, ở giữa sân rộng có nhiều loại chậu cảnh và phong lan. Chùa do Hòa Thượng Giác Phong khai sáng vào cuối thế kỷ 17, chùa xưa có tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự. Ban đầu chùa cũng chỉ là một ngôi thảo am về sau dần dần được tu sửa và xây dựng quy mô hơn.

      Năm 1940, trường Cao Đẳng Phật Học được mở tại chùa Báo Quốc do cố Tăng Thống đại lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Giám Đốc. Báo Quốc đã trở thành một trung tâm đào tạo Tăng tài cho đến ngày nay. Vị Cao tăng có công lao trong việc trùng tu tái thiết chùa Báo Quốc sau cái giai đoạn khói lửa gần đây là Hòa Thượng Thích Trí Thủ. Ngài vừa là Giám đốc Phật học đường vừa là Trụ trì chùa Báo Quốc.

      Báo Quốc là một ngôi chùa cổ ở vị trí trung tâm thành phố, được nhiều người biết đến. Từ nhiều năm nay, chùa đã hấp dẫn và thu hút được đông đảo du khách gần xa, trở thành một trung tâm du lịch của thành phố Huế.  Đương kim Trụ trì là Hòa Thượng Thích Đức Thanh.


Chùa Từ Đàm

       Tọa lạc trên một khoảng đất cao rộng, bằng phẳng thuộc địa phận phường Trường An cách trung tâm thành phố Huế 2 km về hướng nam. Mặt chùa hướng đông nam, trước có núi Kim Phụng, bên trái có chùa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía sau có chùa Thiên Minh. Đặc biệt trong sân chùa có cây Bồ Đề quanh năm tỏa bóng mát. Đây là cây Bồ Đề được chiết ra từ cây Bồ Đề nơi Phật đắc đạo do bà Karpeies, Hội trưởng Hội Phật học Pháp thỉnh từ Ấn Độ qua tặng Việt Nam và được trồng vào năm 1936.





      Trong chánh điện có pho tượng lớn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên tòa sen. Chùa Từ Đàm thờ độc tôn, cách bài trí và thờ tự trong điện có phần đơn giản so với các ngôi chùa khác ở Huế.

      Chùa Từ Đàm do Hòa Thượng Minh Hoằng Tử Dung sáng lập. Mặc dù không phải là ngôi chùa vào loại cổ nhất Việt Nam nhưng Từ Đàm đã được nhiều người ở khắp đất nước biết đến do vai trò quan trọng của chùa trong công cuộc chấn hưng và phát triển của Phật Giáo Việt Nam và các cuộc đấu tranh vì hòa bình và tự do tín ngưỡng. Chùa còn là trụ sở của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thuộc tỉnh Bình Trị Thiên do Hòa Thượng Thích Thiện Siêu trụ trì ngày trước. Ngày nay Trụ trì là Hòa Thượng Thích Hải Ấn.

      Đối với mỗi chúng ta, nhất là người con xứ Huế thì Huế đâu chỉ là địa danh lịch sử, đâu chỉ là những con đường, những dòng sông, đâu chỉ là những Kim Long, Đại Lược, Bao Vinh, Vỹ Dạ, Gia Hội, Kẻ Vạn… mà còn là những nhịp cầu, hàng phượng, bến đò, góc thành cổ, công viên; những gì thật thân thương, mộc mạc qua những xóm nghèo; những gánh bún bò buổi sáng, những tiếng rao hàng đặc sệt Huế, những tà áo trắng buổi tan trường…

      Huế vẫn còn trong hình bóng của một cô chèo đò trên sông Hương, tối tối chở một vì sao mượn từ trời sao xứ Huế và chở cả tiếng hò của cô.

      Thuyền xuôi dòng. Cái tĩnh lặng nên thơ giữa trời nước mênh mông êm ả ngự trị chỉ còn ta với ta. Chỉ có Huế ngày nào có được giây phút tuyệt vời lặng lẽ mênh mang. Xa Huế đã bao lâu, chuyển đổi đến bao miền, hoa lau cũng nhiều lần trở lại với mắt nhìn ở một chốn nào đó, nhưng không một lần tìm thấy lại nét thủy mạc của bờ lau bên dòng nước biếc của những ngày áo trắng lang thang. Nỗi nhớ quê vì vậy cứ canh cánh bên lòng!

      Tất cả phong cảnh Huế, tình cảm Huế sau bao thay đổi của cuộc đời, có thể phần nào Huế và tâm tình không còn trọn vẹn như xưa nhưng mãi mãi người đi xa Huế vẫn luôn luôn hướng về quê xưa với tình Huế vời vợi trong lòng!

     Số phận đã đưa tôi xa Huế, càng ngày càng thấy ngày về mơ hồ xa ngút… và lòng luôn cảm thấy u hoài vì mãi hơn mấy chục năm rồi, gia tài của Mẹ để lại cho con vẫn chỉ là một nước VIỆT buồn!!                                                                              


Nguyên Hạnh HTD

Tháng 9/2019

(Viết về quê hương)

Nguồn: https://quangduc.com/a66625/hue-va-noi-nho

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s